BỆNH VIỆN
TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC

KHẢO SÁT TỈ LỆ NHIỄM NẤM APSPERGILLUS XÂM LẤN TẠI BV.TMHH

1. Đặt vấn đề

Nhiễm nấm Aspergillus xâm lấn là một thể bệnh nặng trong các thể nhiễm nấm Aspergillus, rất thường gặp ở người bị chứng suy giảm miễn dịch. Đối với những bệnh nhân bệnh lý máu ác tính và có một khoảng thời gian giảm bạch cầu hạt kéo dài như bạch cầu cấp đặc biệt sau hóa trị liệu, ghép tế bào gốc, bệnh nhân suy tủy thì nhiễm nấm xâm lấn thường gây những biến chứng nặng nề. Nguyên nhân tử vong hàng đầu của các bệnh máu ác tính, ghép tạng, ung thư, AIDS, hiếm gặp ở người bình thường.

Việc chẩn đoán sớm bệnh nhiễm aspergillosis xâm lấn ở bệnh nhân bệnh máu ác tính là rất quan trọng để kịp thời điều trị cũng như tránh những biến chứng nghiêm trọng dẫn đến tử vong. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp hỗ trợ việc chẩn đoán bệnh nấm xâm lấn do Aspergillus, bao gồm các phương pháp xâm lấn và không xâm lấn, trong đó các kỹ thuật không xâm lấn gồm có CT, MRI, huyết thanh học chẩn đoán, PCR…

Xét nghiệm kháng nguyên galactomannan là một loại xét nghiệm miễn dịch enzyme nhằm phát hiện kháng nguyên galactomannan trong huyết thanh và dịch rữa phế quản (BAL) của người mắc phải Aspergillus sp. xâm lấn. Xét nghiệm có ưu điểm phát hiện sớm trước 5-8 ngày khi có biểu hiện lâm sàng hoặc dấu hiệu X-quang. Điều này chứng tỏ có thể sử dụng xét nghiệm này trong việc chẩn đoán sớm nhiễm nấm xâm lấn để kịp thời điều trị cũng như trong việc theo dõi đáp ứng điều trị ở bệnh nhân bệnh máu ác tính. Một số nghiên cứu cho thấy xét nghiệm miễn dịch galactomanan trên bệnh nhân giảm bạch cầu hạt và dị ghép có độ nhạy 67-100% và độ đặc hiệu lên đến 81-99% (2,5,6). Tại bệnh viện Truyền Máu Huyết Học, chúng tôi đã triển khai xét nghiệm này từ tháng 03/2014 và bước đầu ghi nhận những hiệu quả của việc ứng dụng kỹ thuật phát hiện kháng nguyên galactomannan trong chẩn đoán nhiễm nấm Aspergillus xâm lấn.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1024 mẫu máu của 368 bệnh nhân sốt giảm bạch cầu được thực hiện xét nghiệm chẩn đoán Aspergillus galactomanan bằng kỹ thuật ELISA sử dụng bộ kit Platelia™ Aspergillus Ag của Bio Rad.

3. Kết quả nghiên cứu

Chúng tôi đã thực hiện 1024 xét nghiệm galactomannan cho 368 bệnh nhân với 526 lượt bệnh nhân điều trị và có kết quả tỉ lệ nhiễm Aspergillus nấm xâm lấn là 2,47% . So với nghiên cứu của các tác giả quốc tế, ghi nhận này khá tương đồng. Trong 1 nghiên cứu hồi cứu trên 11.802 bệnh nhân bệnh máu ác tính của Pagano L(4), tỉ lệ nhiễm Aspergillus là 2,9% . Một nghiên cứu khác của Ulusakarya A và cộng sự (6) cũng ghi nhận tỉ lệ nhiễm là 3,1%. Ngược lại tại Việt Nam, ví dụ điển hình là 2 nghiên cứu vào năm 2010 và 2011 của hai tác giả Trần Quốc Tuấn(1) và Nguyễn Bích Trân(3) cũng thực hiện trên đối tượng bệnh nhân tương tự tại Bệnh Viện Truyền Máu Huyết Học, không trường hợp nào nhiễm nấm xâm lấn do Aspergillus, trong khi tỉ lệ nhiễm nấm Candida huyết là đến 12,9%. Ở báo cáo của mình, các tác giả này giải thích việc không chẩn đoán được nhiễm nấm Aspergillus xâm lấn có thể là do tại thời điểm đó chưa có sự phát triển các phương tiện chẩn đoán xác định cho nhóm Aspergillus, chẳng hạn xét nghiệm Galactomannan, xét nghiệm sinh học phân tử, nuôi cấy trên mô sinh thiết…. Các tác giả trên(1,3) cũng nhấn mạnh rằng chính vì thế, sự phân bố tác nhân trong nghiên cứu của họ có phần khác biệt so với các nghiên cứu ở nước ngoài, vốn tỷ lệ nhiễm Aspergillus chiếm ưu thế(4).

Nhóm bệnh nhân được kiểm tra xét nghiệm phát hiện kháng nguyên galactomannan trong nghiên cứu của chúng tôi gần như tuyệt đại đa số là bệnh nhân bệnh máu ác tính điều trị đặc hiệu, bệnh nhân suy tủy hay suy tủy sau hóa trị liệu. Đây là nhóm bệnh nhân cần được chẩn đoán sớm để hạn chế nguy cơ tử vong và cải thiện hiệu quả điều trị. Những ghi nhận ở nhóm bệnh nhân này sẽ hữu dụng để bác sĩ lâm sàng ứng dụng cho quần thể bệnh nhân phổ biến tại Bệnh viện Truyền Máu Huyết Học.

Theo ghi nhận từ y văn, tỉ lệ tử vong do nhiễm Candida huyết là khoảng 30-40%, và tỉ lệ tử vong do nhiễm Aspergillus xâm lấn lên đến 60-70%(4). Trong khi ở nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ tử vong của nhiễm nấm Aspergillus xâm lấn là 0%. Điều này có thể là do số bệnh nhân bị nhiễm của chúng tôi là quá ít (13 bệnh nhân so với 346 bệnh nhân trong báo cáo năm 2006 của tác giả Pagano(4)). Lý do thứ hai là vì dựa vào kết quả xét nghiệm Galactomannan dương tính, bác sĩ điều trị thường bổ sung sớm thuốc kháng nấm ở các đối tượng nguy cơ cao, cũng như mức độ nhạy cảm tương đối còn tốt của nấm Aspergillus. Một yêu cầu cực kỳ quan trọng đối với nhiễm nấm xâm lấn đặc biệt là trên cơ địa suy giảm miễn dịch và giảm bạch cầu hạt là phải khởi động điều trị sớm. Y văn cho thấy bệnh nhân nhiễm nấm được điều trị sớm trong vòng 4 ngày thì điều trị khỏi triệt để được 50%. Trong khi là tử vong 100% nếu điều trị trễ quá 2 tuần.

Vì vậy, xét nghiệm galactomannan là thử nghiệm hữu ích nên cần tiếp tục ứng dụng kỹ thuật phát hiện kháng nguyên galactomannan trong chẩn đoán nhiễm nấm Aspergillus xâm lấn đối với bệnh nhân bệnh lý huyết học điều trị tại BV.TMHH.

4. Tài liệu tham khảo

1. Đặng Chí Vũ Luân, Trần Quốc Tuấn (2010), Đặc điểm nhiễm nấm huyết trên bệnh nhân giảm bạch cầu hạt sau hóa trị liệu tại khoa Lâm Sàng Người Lớn BVTMHH TP.HCM, Tạp chí Y Học Việt Nam, 373(2):215-222.

2. Jarque I., Andreu R., Salavert M., Gómez D., Pemán J., Gobernado M., Sanz MA. (2003), Value of Aspergillus galactomannan antigen detection in the diagnosis and follow-up of invasive aspergillosis in hematological patients, Rev Iberoam Micol, 20(3):116-118.

3. Huỳnh Đức Vĩnh Phú, Nguyễn Bích Trân (2011), Khảo sát tình trạng nhiễm nấm xâm lấn ở bệnh nhân người lớn hóa trị liệu đặc hiệu tại Bệnh viện Truyền Máu Huyết Học TP.HCM từ 06/2010 đến 06/2011, Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí Minh, 15(4):188-194.

4. Pagano L., Caira M., Candoni A., Massimo O., Fianchi, Martino B. (2006), The epidemiology of fungal infections in patients with hematologic malignancies: the SEIFEM-2004 study, Haematologica, 91(8): 1068-1075.

5. Sulahian A., Boutboul F., Ribaud P., Leblanc T., Lacroix C., Derouin F. (2001), Value of antigen detection using an enzyme immunoassay in the diagnosis and prediction of invasive aspergillosis in two adult and pediatric hematology units during a 4-year prospective study, Cancer, 91(2): 311-318.

6. Ulusakarya A., Chachaty E., Vantelon JM., Youssef A., Tancrède C., Pico JL., Bourhis JH., Fenaux P., Munck JN. (2000), Surveillance of Aspergillus galactomannan antigenemia for invasive aspergillosis by enzyme-linked immunosorbent assay in neutropenic patients treated for hematological malignancies, Hematol J, 1(2): 111-116.

KHOA SÀNG LỌC MÁU

TIN KHÁC