BỆNH VIỆN
TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC

XƠ TỦY NGUYÊN PHÁT

      I. Xơ tủy nguyên phát là gì

      Xơ tủy nguyên phát là một thể bệnh trong nhóm bệnh tân sinh tăng sinh tủy. Bệnh được đặc trưng bởi: (1) thiếu máu, (2) lách to, (3) tế bào hạt không trưởng thành, tế bào CD34+, nguyên hồng cầu và các hồng cầu hình giọt nước trong máu, (4) xơ tủy và (5) xơ cứng xương.

 

      Về mặt di truyền tế bào, xơ tủy nguyên phát là một bệnh huyết học ác tính bắt nguồn từ một tế bào đầu dòng tạo máu đa năng, tăng sinh dòng mẫu tiểu cầu, thay đổi chất nền tủy xương phản ứng và tạo máu ngoài tủy.

 

      II. Những ai có thể mắc bệnh lý này?

      Đây là một thể bệnh hiếm, với tỉ lệ bệnh mới khoảng 0,4 – 1,5/100.000 dân/năm. Bệnh thường gặp ở người trên 50 tuổi, trung bình lúc chẩn đoán khoảng 65 – 70 tuổi, nhưng bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

 

      Nói chung không tìm được các yếu tố độc hại trong môi trường liên quan đến xơ tủy nguyên phát nhưng có gợi ý về mối liên hệ với tiếp xúc nồng độ cao benzene hoặc phóng xạ liều cao trong một vài trường hợp.

 

      III. Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh

      Bệnh có những triệu chứng không đặc hiệu như: mệt mỏi, yếu, thở nhanh, hồi hộp đánh trống ngực, chán ăn. Ngoài ra, người bệnh có cảm giác khó chịu ở vùng bụng bên trái do lách to. Có thể xuất huyết, thỉnh thoảng đau xương nổi trội, đặc biệt ở chi dưới. Triệu chứng sốt nhẹ, sụt cân, đổ mồ hôi đêm và đau xương ít gặp hơn và thường xảy ra ở giai đoạn sau của bệnh.

 

      Hầu như tất cả bệnh nhân có lách to vào thời điểm chẩn đoán và khoảng 2/3 trường hợp có gan to. Một số bệnh nhân có thể xuất hiện teo cơ, phù ngoại vi và ban xuất huyết. Những bệnh nhân có biểu hiện bệnh da do tăng neutrophil cần chẩn đoán phân biệt với leukemia xâm nhiễm da và viêm mạch hoặc nhiễm trùng không liên quan. Đây là sang thương nổi trội, xâm nhiễm da dữ dội do bạch cầu đa nhân trung tính.

 

      Các triệu chứng khác của xâm lấn ngoài tủy bao gồm: hạch to, tràn dịch màng phổi, báng bụng, bệnh phổi mô kẽ …

 

      IV. Các xét nghiệm chẩn đoán bệnh

      Các xét nghiệm để chẩn đoán bao gồm: huyết đồ, sinh thiết tủy và di truyền phân tử:

 

      4.1. Huyết đồ

      Huyết đồ ở bệnh nhân xơ tủy nguyên phát cho thấy thiếu máu đẳng sắc, đẳng bào. Hồng cầu không đồng đều về kích thước, hình dạng, hồng cầu hình giọt nước và có hiện diện hồng cầu nhân. Bạch cầu tăng nhẹ, có thể hiện diện tế bào non tỉ lệ thấp trong máu ngoại biên. Tiểu cầu tăng hoặc giảm, đặc trưng là tiểu cầu khổng lồ và tiểu cầu tạo hạt bất thường.

 

 

Phết máu ngoại biên: hồng cầu hình giọt nước

 

      4.2. Sinh thiết tủy

      Sinh thiết tủy là một xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán bệnh: Bác sĩ sẽ dùng một kim lớn đâm xuyên vào xương chậu ở vị trí gai chậu trước hoặc gai chậu sau của người bệnh để lấy mẫu tủy xương. Mẫu sinh thiết tủy cho thấy tăng sinh mẫu tiểu cầu và bạch cầu hạt. Hồng cầu có thể giảm, bình thường hoặc tăng. Nhuộm hematoxylin hoặc eosin mẫu sinh thiết thấy xơ hóa sợi collagen nhẹ, thỉnh thoảng có xơ hóa sợi rất nặng. Nhuộm bạc thấy tăng sợi reticulin.

 

Tủy xương: Reticulin (+)

 

      4.3. Di truyền phân tử

         Xét nghiệm karyotype:

      Sử dụng kỹ thuật nhuộm băng G. Mẫu xét nghiệm là 2mL tủy xương được lấy trong chống đông Heparin 300 UI, xử lý trong vòng 1 tiếng đồng hồ sau khi lấy. Đây là kỹ thuật có thể xác định các bất thường nhiễm sắc thể thường gặp trong xơ tủy nguyên phát như: trisomy 1q, del(13)(q13q21), del(20q) và trisomy 8, hoặc các bất thường liên quan đến nhiễm sắc thể 5, 7, 9, 13, 20, 21…

 

      Xét nghiệm lai tại chỗ phát huỳnh quang (FISH):

      Kỹ thuật FISH là một kỹ thuật sử dụng các đoạn dò chuyên biệt để phát hiện đặc hiệu các bất thường trisomy 1q, del(13)(q13q21), del(20q) và trisomy 8, hoặc các bất thường liên quan đến nhiễm sắc thể 5, 7, 9, 13, 20, 21…

 

      Mẫu sử dụng cho xét nghiệm này là tủy xương (2 ml) trong chống đông heparin 300UI và được xử lý trong vòng 8 giờ sau khi lấy ở nhiệt độ 20o – 25oC.

 

      Kỹ thuật ASO-PCR phát hiện đột biến JAK2V617F.

      JAK2 là gen liên quan đến tín hiệu thụ thể tạo hồng cầu và tiểu cầu. Đột biến điểm JAK2V617F là đột biến tăng chức năng, có thể được phát hiện từ mẫu DNA của người bệnh. ASO-PCR là một kỹ thuật di truyền phân tử có độ nhạy cao, chuyên biệt để phát hiện các đột biến điểm. Với phương pháp này, các bác sĩ chỉ cần sử dụng mẫu máu (2 mL) trong chống đông EDTA hoặc ACD để ly trích DNA để chạy phản ứng và đọc kết quả.

 

      Giải trình tự chuỗi DNA: (DNA Sequencing).

      Giải trình tự chuỗi DNA là kỹ thuật đọc trình tự các nucleotide của mẫu DNA mục tiêu. Các đoạn DNA này chính là các gen hoặc một phần của gen mục tiêu, do đó trình tự DNA sau khi đọc được so sánh với trình tự tham chiếu chuẩn trên ngân hàng gen (genbank) để xác định các đột biến gen. Người bệnh sau khi không phát hiện đột biếnJAK2V617F có thể được xem xét chỉ định xét nghiệm giải trình tự chuỗi DNA để xác định các đột biến gen JAK2 trên exon 12, gen CALR, MPL, CBL, SH2B3, TET2, IDH1/2, ASXL1, EZH2, DNMT3a, IKZF1. Mẫu sinh phẩm sử dụng cho xét nghiệm này là mẫu máu (2 mL) trong chống đông EDTA.

 

      V. Bệnh điều trị như thế nào?

      Khoảng 30% trường hợp không triệu chứng ổn định trong nhiều năm và không cần điều trị.

      5.1. Các chỉ định điều trị bao gồm:

  • Thiếu máu : Hb < 10g/dL
  • Giảm tiểu cầu
  • Lách to có triệu chứng

      5.2. Lưu đồ điều trị

 

      Bệnh nhân thiếu máu được trợ giúp với truyền hồng cầu, có thể sử dụng các thuốc kích thích tăng tạo hồng cầu như erythropoietin, androgen.

      Cắt lách không được chỉ định một cách thường quy nhưng có thể chỉ định trong một số trường hợp:

  • Lách to có triệu chứng (đau) kháng với điều trị thuốc
  • Thiếu máu kháng với điều trị thuốc
  • Tăng áp lực TM cửa có triệu chứng (báng bụng, chảy máu do giãn TM)
  • Giảm tiểu cầu nặng
  • Những triệu chứng tăng chuyển hóa nặng, trong đó có suy kiệt.

      Thuốc ức chế JAK như Ruxolitinib (Jakavi) được sử dụng điều trị làm giảm triệu chứng toàn thân và làm lách nhỏ lại.

      Ghép tủy xương được chỉ định cho nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao và có khả năng đưa đến lui bệnh. Tuy nhiên khó khăn trong việc chọn người cho tủy phù hợp.

 
 
Phan Thị Xinh 
Phan Thị Xinh

TIN KHÁC