BỆNH VIỆN
TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PCR KỸ THUẬT SỐ TRONG THEO DÕI ĐIỀU TRỊ BỆNH BẠCH CẦU MẠN DÒNG TỦY

Bệnh bạch cầu mạn dòng tủy (BCMDT) là bệnh của tế bào gốc đa năng. Các tế bào tạo máu của người bệnh BCMDT mang nhiễm sắc thể Philadelphia, là kết quả của chuyển vị giữa nhánh dài nhiễm sắc thể 9 và 22, tạo thành tổ hợp gen BCR-ABL. Tổ hợp gen này đóng vai trò gây bệnh BCMDT. Vì thế, bệnh BCMDT được điều trị bằng thuốc nhắm trúng đích phân tử BCR-ABL, từ đó làm giảm và loại trừ tế bào mang tổ hợp gen gây bệnh này. Do đó, việc định lượng số bản sao BCR-ABL còn lại trong cơ thể người bệnh là tiêu chuẩn vàng trong theo dõi đáp ứng điều trị bệnh.

 

Việc theo dõi đáp ứng phân tử (MR: molecular response) cung cấp thông tin quan trọng về tiên lượng cho người bệnh BCMDT đang được điều trị. Các mức đáp ứng phân tử được định nghĩa như sau:

- MR3,0 khi tỷ lệ số bản sao tổ hợp gen BCR-ABL/ số bản sao gen giữ nhà ABL ≤ 0,1% (IS: international score, theo thang quốc tế) với số bản sao ABL tối thiểu ≥ 1.000.

- MR4,0 khi tỷ lệ BCR-ABL/ ABL ≤ 0,01% (IS) với số bản sao ABL tối thiểu ≥ 10.000.

- MR4,5 khi tỷ lệ BCR-ABL/ ABL ≤ 0,0032% (IS) với số bản sao ABL tối thiểu ≥ 32.000.

- MR5,0 khi tỷ lệ BCR-ABL/ ABL ≤ 0,001% (IS) với số bản sao ABL tối thiểu ≥ 100.000.

 

Mục tiêu điều trị bệnh BCMDT là đạt đáp ứng sâu về phân tử (MR4,0 trở lên) sớm và duy trì mức đáp ứng này. Tuy nhiên, việc duy trì dùng thuốc làm người bệnh đối mặt với nguy cơ kháng thuốc và thiệt hại về kinh tế. Do đó, bác sĩ cần cân nhắc việc ngưng thuốc ở thời điểm thích hợp, đủ an toàn để người bệnh ít nguy cơ tái phát nhất có thể, và đồng thời theo dõi sát để phát hiện sớm dấu hiệu tái phát ở mức phân tử. Theo hướng dẫn điều trị của Mạng lưới ung thư quốc gia (National Comprehensive Cancer Network (NCCN)), NB BCMDT giai đoạn mạn điều trị TKI ít nhất 3 năm, duy trì MR4,0 trở lên ít nhất 2 năm có thể ngưng thuốc, dùng kỹ thuật PCR định lượng có độ nhạy từ MR4,5 trở lên để theo dõi sau ngưng thuốc, tần suất theo dõi mỗi tháng trong 6 tháng đầu, mỗi 6 tuần trong 6 tháng tiếp, mỗi 3 tháng sau đó.

 

Kỹ thuật PCR kỹ thuật số dùng để định lượng số bản sao gen mục tiêu có trong mẫu bệnh phẩm. Đây là kỹ thuật rất nhạy, có thể phát hiện đến mức MR4,5. Nhờ đó, PCR kỹ thuật số giúp đánh giá tình trạng lui bệnh về phân tử, giúp cho bác sĩ lâm sàng đưa ra quyết định ngưng thuốc cho người bệnh ở thời điểm thích hợp. Mặt khác, kỹ thuật này cũng cho phép phát hiện sớm các trường hợp không đáp ứng hay tái phát, từ đó giúp bác sĩ lâm sàng co thể thay đổi phác đồ điều trị phù hợp. Do đó, người bệnh BCMDT nên được theo dõi bằng kỹ thuật PCR kỹ thuật số mỗi 3 đến 6 tháng sau điều trị. Để thực hiện xét nghiệm này, người bệnh cần được thu thập 3ml máu trong chất chống đông EDTA theo chỉ định của bác sĩ điều trị. Kết quả được trả trong 2 tuần.
 
                                                                                                                                                  KHOA DI TRUYỀN HỌC PHÂN TỬ 

TIN KHÁC