BỆNH VIỆN
TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC

NGHIÊN CỨU VIÊM GAN B TIỀM ẨN Ở NGƯỜI HIẾN MÁU TẠI BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC


1. Khái quát viêm gan B tiềm ẩn

   Viêm gan virus B (HBV) là một trong những bệnh lây nhiễm phổ biến của thế giới với khoảng 2 tỷ người nhiễm HBV. Virus HBV xâm nhập qua đường máu nên dễ dàng được lan truyền rộng rãi bởi các sản phẩm máu có chứa nguồn bệnh. Do đó, việc truyền máu chứa HBV trở thành mối đe dọa lớn đối với các quốc gia đang phát triển mà có tỷ lệ nhiễm cao và quy trình chọn lọc máu chưa chặt chẽ. Máu và các sản phẩm từ máu trước khi được sử dụng đã được sàng lọc huyết thanh học. Tuy nhiên, gần đây, các nhà nghiên cứu phát hiện ra có những trường hợp nhiễm viêm gan B do truyền máu. Điều này chứng tỏ trong máu và các sản phẩm của máu có virus HBV tiềm ẩn (là những kháng nguyên viêm gan B bề mặt không phát hiện được về mặt huyết thanh học nhưng lại có sự hiện diện của HBV DNA). Virus HBV tiềm ẩn biểu hiện DNA trong máu với nồng độ rất thấp. Do đó, kỹ thuật khuếch đại acid nucleic (Nucleic Acid Amplification Testing – NAT) đã được áp dụng tại Bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả sàng lọc máu. Trong nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát tỷ lệ nhiễm viêm gan B tiềm ẩn OBI (occult HBV infection) ở người hiến máu có kết quả âm tính với kỹ thuật miễn dịch huyết thanh học.

 

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

   Nghiên cứu được thực hiện trên người đến hiến máu tại Bệnh Viện Truyền Máu Huyết Học TP. HCM từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2016. Những mẫu máu tình nguyện sau khi sàng lọc huyết thanh học có kết quả âm tính với HBsAg sẽ được thực hiện kỹ thuật sinh học phân tử HBV DNA để xác định tỷ lệ viêm gan B tiềm ẩn.

 

3. Kết quả nghiên cứu

   Chúng tôi đã thực hiện xét nghiệm HBsAg trên 176561 mẫu máu tình nguyện, xác định 3700 (2%) mẫu dương tính với HBsAg. Trong đó số người hiến máu nam nhiễm HBsAg chiếm 63,4%, và nữ chiếm 36,6%. Tiến hành xét nghiệm HBV-DNA trên mẫu máu âm tính với HBsAg, chúng tôi thu được kết quả như sau: trong 172861 mẫu thì có 169 (0,097%) dương tính HBV-DNA; nghĩa là trong 10000 người hiến máu thì có khoảng 10 người mang virus viêm gan B tiềm ẩn. Nhờ có kỹ thuật NAT, chúng tôi đã phát hiện được 169 trường hợp viêm gan B tiềm ẩn có thể truyền cho người nhận hay sử dụng các sản phẩm từ máu của bệnh viện.

   Tỷ lệ HBsAg dương tính ở nghiên cứu có sự tương đồng với tỷ lệ của WHO (được báo cáo 03/07/2017) khoảng 2% nhiễm virus viêm gan B ở khu vực Đông Nam Á(7). Khi so sánh với kết quả tỷ lệ viêm gan B tại Bệnh viện Truyền máu - Huyết Học những năm trước đây với nghiên cứu Trương Thị Kim Dung và cộng sự (4) thì tỷ lệ nhiễm viêm gan B ở người hiến máu tại Bệnh viện Truyền máu - Huyết học càng ngày càng thấp. Điều này cho thấy sự tầm soát viêm gan B tại Bệnh viện Truyền máu - Huyết học ngay từ khâu tuyên truyền, vận động việc hiến máu nhắc lại trên người tình nguyện, khâu khám tuyển người hiến máu đang dần được kiểm soát tốt hơn. Bên cạnh đó, khoa học kỹ thuật và dân trí ngày càng phát triển, giúp mọi người có thể nắm được thông tin và cách phòng tránh các bệnh truyền nhiễm, thường xuyên kiểm tra sức khỏe và phát hiện sớm các triệu chứng bệnh. Do đó, đã góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ người nhiễm HBV. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Weber B (2002) kết quả âm tính giả và kết quả không điển hình có thể xảy ra trong các trường hợp như: giai đoạn cửa sổ ở cuối thời kỳ ủ bệnh trước khi sự tổng hợp HBsAg đủ lớn để có thể phát hiện được bằng phương pháp miễn dịch, người mang nồng độ HBsAg thấp, những đột biến và biến thể của gen S, nhiễm trùng phối hợp HCV có thể làm cản trở sự sao chép của HBV hoặc sự thể hiện của HBsAg (6).

   Tỷ lệ OBI trong nghiên cứu này của chúng tôi cao hơn so với các nghiên cứu khác trên thế giới. Điển hình là gấp 1,67 lần so với nghiên cứu Rajesh Kumar và cộng sự (2), gấp 2,69 lần so với nghiên cứu của Soisaang Ph.(3) Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm viêm gan B tiềm ẩn trong nghiên cứu của chúng tôi lại thấp hơn rất nhiều so với nghiên cứu của K.T.Lin và cộng sự (1). Đó là do sự khác biệt về tình hình dịch tễ của mỗi nước và mỗi khu vực. So sánh với tỷ lệ OBI của nhóm nghiên cứu khác trong nước, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cao hơn nghiên cứu tại Viện Huyết Học- Truyền Máu Trung Ương năm 2014 - 2015 (0,079%) (5). Sự khác biệt về tỷ lệ này có thể do độ nhạy và phương pháp khác nhau trong quy trình chuẩn bị và phát hiện DNA.

   Kỹ thuật NAT là một trong những kỹ thuật tiên tiến nhất hiện nay mà Bộ Y tế đã ban hành thông tư cho phép áp dụng trong sàng lọc máu. Kỹ thuật này giúp phát hiện trực tiếp các DNA hoặc RNA của virus, có khả năng phát hiện được virus trong máu sớm hơn các phương pháp sàng lọc huyết thanh học. Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu kỹ thuật NAT chưa được áp dụng trong sàng lọc túi máu tại bệnh viện Truyền máu Huyết học trong năm 2016 thì sẽ có khoảng 169 trường hợp bị nhiễm HBV mà phương pháp huyết thanh học đã bỏ sót với tỷ lệ 0,097%; nghĩa là cứ 10000 người hiến máu thì sẽ có 10 người mang virus HBV tiềm ẩn, là nguy cơ truyền bệnh cho người nhận. Hơn thế nữa, như hiện nay, một túi máu được sản xuất thành ba hoặc bốn sản phẩm tương ứng để cung cấp cho người nhận, thì số người nhận có nguy cơ nhiễm virus HBV tiềm ẩn là 507 đến 676. Đây là một con số vô cùng ý nghĩa, đáng phải suy ngẫm.

   Tóm lại, cần phải đẩy mạnh việc thực hiện các xét nghiệm bằng kỹ thuật NAT, một là giúp người hiến máu phát hiện sớm bệnh để phòng ngừa và chữa trị, hai là để bảo vệ những người cần tiếp nhận máu không bị lây nhiễm qua con đường truyền máu. Kỹ thuật sàng lọc NAT đã được ứng dụng ở nước ta từ năm 2015 ở các ngân hàng máu lớn, nhưng chưa được người dân biết đến nhiều. Vì vậy, cần đẩy mạnh tuyên truyền cho người sử dụng biết cũng như cần kết hợp xét nghiệm huyết thanh học và kỹ thuật NAT trong sàng lọc máu để hạn chế đến mức thấp nhất sự lây lan HBV qua đường truyền máu.

 

4. Tài liệu tham khảo

[1]. Lin KT, Chang CL, Tsai MH, Lin KS, Saldanha J, Hung CM. (2014). Detection and identification of occult HBV in blood donors in Taiwan using a commercial, multiplex, multi-dye nucleic acid amplification technology screening test. The International Journal of Transfusion Medicine; 106 (2): 103-110

[2]. Rajesh Kumar, Amarjit Kaur, Sonia Gupta, Ramneek Locham, Gurkiran Kaur (2016). Detection and identification of occult hepatitis B virus infection among blood donors. International Journal of Medical Science and Public Health; 5 (10): 2057-2061

[3]. Soisaang Phikulsod (2009). One year experience of nucleic acid technology testing for human immunodeficiency virus Type 1, hepatitis C virus, and hepatitis B virus in Thai blood donations. Blood donor and blood collection, p:1126-1135

[4]. Trương Thị Kim Dung, Phù Chí Dũng, Nguyễn Phước Bích Hạnh, Nguyễn Thị Tuyết Thu, Trần Thị Trang, Đào Ngọc Tuyền, Mai Thanh Truyền, Trần Thị Hân (2015). Nhận xét tình hình hoạt động của ngân hàng máu bệnh viện Truyền Máu Huyết Học TP. HCM trong 15 năm từ 2000-2014. Hội nghị truyền máu huyết học phía Nam lần 3, 19(4):489-496

[5]. Viện Huyết học – Truyền máu TW (2014) , Báo cáo tổng kết năm 2014, kế hoạch hoạt động năm 2015, Hà Nội.

[6]. Weber B (2002), The isolated anti – HBc reativity. New developments Journal of Microbiology, 40, pp: 451-458

[7]. World Health Organization (2017). New hepatitis data highlight need for urgent global response. Available at: http://www.who.int/mediacentre/news/releases/2017/global-hepatitis-report/en.

ThS. Nguyễn Thanh Sơn

THS. BS. TRẦN THỊ TRANG

TIN KHÁC