BỆNH VIỆN
TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM XOẮN KHUẨN GIANG MAI Ở NGƯỜI HIẾN MÁU TẠI BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC

1. Đặt vấn đề

Bệnh giang mai gây ra bởi xoắn khuẩn Gram âm nội bào Treponema pallidum (T. pallidum). Bộ gen của T. pallidum nhỏ, chỉ có 1.138.006 bp và 1.041 chuỗi mã hóa nên sự biến dưỡng của T. pallidum thiếu nhiều con đường bao gồm chu trình axit tricarboxylic, các thành phần của quá trình phosphoryl oxy hóa và hầu hết các con đường sinh tổng hợp nên chúng dựa vào vật chủ để thực hiện các chức năng cần thiết [1,2]. Bệnh chủ yếu lây qua đường tình dục, nhưng cũng có thể truyền từ mẹ sang con trong quá trình mang thai hoặc sinh nở. Các trường hợp nhiễm giang mai thông qua sản phẩm máu, hiến tạng và phơi nhiễm nghề nghiệp cũng được ghi nhận [3].

Tỷ lệ mắc phải của nhiễm giang mai trên toàn cầu năm 2008 là khoảng 10,6 triệu và tổng số ca nhiễm trong năm đó là 36,4 triệu. Ở Mỹ, tỷ lệ nhiễm quốc gia tăng đến 6,3 ca trên 100.000 người, tỷ lệ cao nhất kể từ năm 1994. Tỷ lệ nhiễm cũng tăng ở các nước châu Âu và bùng phát lớn trong khu vực [5]. Theo WHO năm 2012, có khoảng 17,7 triệu người nhiễm giang mai trên thế giới ở độ tuổi từ 15 - 49, ước tính mỗi năm có 5,6 triệu ca nhiễm mới [4].

Tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học, tất cả các sản phẩm máu trước khi sử dụng đều được xét nghiệm giang mai bằng kỹ thuật ELISA/ CMIA/ ECLIA giúp làm giảm nguy cơ lây nhiễm không những giang mai mà còn HIV cho người nhận vì các đối tượng nhiễm giang mai có nguy cơ đồng nhiễm HIV cao. Ứng dụng các kỹ thuật trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tình hình nhiễm xoắn khuẩn giang mai ở người hiến máu với mục tiêu xác định tỷ lệ dương tính với xoắn khuẩn giang mai trên người hiến máu tại Bệnh Viện Truyền máu Huyết học trong năm 2018.

 

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

224375 mẫu máu tình nguyện thu được trong năm 2018 tại khoa Sàng lọc máu, Bệnh viện Truyền máu Huyết học TP. Hồ Chí Minh được thực hiện xét nghiệm giang mai bằng kỹ thuật ELISA hoặc kỹ thuật hóa phát quang hoặc điện hóa phát quang. Nghiên cứu được thiết kế theo nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu.

 

3. Kết quả nghiên cứu

Chúng tôi đã thực hiện xét nghiệm giang mai trên 224375 mẫu máu tình nguyện, trong đó có 211929 người hiến máu tình nguyện và 12446 người hiến tiểu cầu. Kết quả xác định có 615 trường hợp người hiến máu và 3 trường hợp người hiến tiểu cầu dương tính với xoắn khuẩn giang mai, chiếm tỷ lệ lần lượt là 0,29% và 0,02%. Tỷ lệ nhiễm giang mai ở nam giới cao hơn nữ giới (cao gấp 1,85 lần), độ tuổi người hiến máu nhiều nhất là nhóm dưới 30 tuổi (chiếm 57,15% đối với người hiến máu tình nguyện và 50,62% đối với người hiến tiểu cầu) và đây cũng là nhóm tuổi có tỷ lệ đồng nhiễm với HIV cao nhất (chiếm 9,15 %) mặc dù tỷ lệ nhiễm giang mai là thấp nhất.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ nhiễm giang mai ở người hiến máu thuộc mức trung bình so các nước khác trên thế giới nhưng tỷ lệ này lại cao hơn so với các các ngân hàng máu khác trong nước như Viện Huyết học Truyền máu Trung ương (0,083%) và Bệnh viện Truyền máu Huyết học Cần Thơ (0,14%). Nếu tính cả người hiến máu và hiến tiểu cầu thì trong năm 2018 tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học có tổng cộng 618 trường hợp nhiễm giang mai, trong đó có 39 trường hợp đồng nhiễm với HIV. Giả sử nếu không có xét nghiệm sàng lọc giang mai, thì có rất nhiều trường hợp bị nhiễm giang mai thông qua truyền máu. Mặt khác, những người hiến máu bị nghi ngờ nhiễm giang mai này sẽ không phát hiện được bệnh để điều trị sớm, không bị trì hoãn hiến máu mà vẫn tham gia hiến máu lặp lại nhiều lần thì sẽ mang mầm bệnh truyền cho rất nhiều người cần sử dụng máu và chế phẩm máu.

 

4. Tài liệu tham khảo

[1] Ameeta E. Singh, Barbara Romanowski (1999). Syphilis: Review with Emphasis on Clinical, Epidemiologic, and Some Biologic Features. American Society for Microbiology, 12(2): 187–209

[2] Amran M AL-Erjan, Kamil M AL-Jobori, Yahya A Abbas (2017). Epidemiological Study for Prevalence and Incidence of Syphilis among Blood Donors in Thi-qar Province. Chronicle of Medicine and Surgery, 1(1):1-9

[3] Juliet e. Stoltey, Stephanie E. Cohen (2015). Syphilis transmission: a review of the current evidence. Sex Health, 12(2): 103–109

[4] Rosanna W. Peeling, David Mabey, Mary L. Kamb, Xiang-Sheng Chen, Justin David , Radolf, Adele Schwartz Benzaken (2018). Syphilis. HHS Public Access, 1-49

[5] Spornraft-Ragaller P, Schmitt J, Stephan V, Boashie U, Beissert S (2014). Characteristics and coinfection with syphilis in newly HIV-infected patients at the University Hospital Dresden 1987-2012. J Der Dtsch Dermatologischen Gesellschaft, 12(8):707-716.

 
                                                                                                            THS. NGUYỄN THANH SƠN
                                                                                                                KHOA SÀNG LỌC MÁU 
 

TIN KHÁC